Tiếng Việt được xem là một trong những ngôn ngữ có cấu tạo phức tạp. Vì vậy, để giúp các em học sinh hiểu hơn về ngôn ngữ của dân tộc, từ đó học tốt môn Ngữ văn, bài viết sẽ cung cấp thêm kiến thức về từ trong tiếng Việt

 

 

từ-trong-tiếng-Việt

Phân loại từ trong tiếng Việt

  1. Khái niệm từ trong tiếng Việt
    Từ là đơn vị có sẵn trong ngôn ngữ, là đơn vị nhỏ nhất, cấu tạo ổn định, được dùng để cấu thành nên câu. Từ dùng để gọi tên sự vật, trạng thái, tính chất, hoạt động, là công cụ biểu hiện khái niệm của con người về sự vật.
  2. Cấu tạo từ trong tiếng Việt

nhận diện từ trong tiếng Việt

                                                                                Cách nhận diện tiếng trong từ

Đơn vị cấu tạo nên từ là tiếng, ngữ âm thường gọi là âm tiết. Nguyên tắc phổ biến là từ được cấu tạo từ hình vị, nhưng hình vị trong các ngôn ngữ khác nhau có thể không giống nhau.

Về nội dung, tiếng là đơn vị nhỏ nhất có nội dung thể hiện, có giá trị hình thái học. Việc có hay không xuất hiện của một tiếng trong một “chuỗi lời nói ra” luôn đem đến tác động nhất định về mặt ngữ nghĩa.

Ví dụ:

Nhạt-nhàn nhạt; Trắng- trăng trắng; trắng phau; trắng dã;...

Về hình thức, nó trùng hợp với âm đoạn phát âm tự nhiên được gọi là âm tiết.

Xét về ý nghĩa, giá trị ngữ pháp và năng lực tham gia cấu tạo từ, không phải tiếng nào cũng giống nhau.

a. Có những tiếng tự nó đã có nghĩa, chỉ một đối, tượng hay khái niệm cụ thể như: sông, nước, mây, trời, cây, cỏ,...

b. Có những tiếng, tự thân nó không thể quy chiếu vào một đối tượng hay khái niệm, song việc có hay không có sự xuất hiện của nó trong cấu trúc từ sẽ làm cho tình hình khác nha, không kể đến những từ đã tìm ra nghĩa trong quá khứ lịch sử tiếng Việt. Ví dụ: giấy (má), xe (cộ), ruộng (trưa),...

c. Có những tiếng xuất hiện trong những từ mà tất cả chúng tham gia cấu tạo từ đều không quy chiếu vào một khái niệm, một đối tượng nào nếu tách rời nhau. Ví dụ: mồ hôi, lê-ki-ma,...

Sự tranh luận về giá trị và ý nghĩa của tiếng thực sự tập trung vào những tiếng thuộc loại b và c, mà chủ yếu là c. Song, tư cách và giá trị tương đương với hình vị trong tiếng Việt có thể chứng minh được qua việc tách rời, lặp, thêm thành tố...

Ví dụ: ấm êm- chăn ấm nệm êm.

Tuy nhiên, số lượng các tiếng thuộc loại này không nhiều, đa số có nguồn gốc ngoại lai, không thuộc vùng trung tâm tiếng Việt.

Tóm lại, đối với tiếng Việt hiện nay, nếu cho rằng "có chỉ ra, có quy chiếu vào đối tượng nào, khái niệm nào hay không" thì chúng ta vẫn quen chia thành hai loại: tiếng có nghĩa (thuộc loại a như kể trên), tiếng vô nghĩa (thuộc loại b và c).

Xét về năng lực hoạt động ngữ pháp, căn cứ vào tiêu chí "có khả năng hoạt động tự do hay không"  có thể chia tiếng thành hai loại: tiếng tự do và tiếng không tự do.

  • Tiếng tự do: là những tiếng tự thân nó có thể tạo thành một từ.Ví dụ: trăng, sao, mưa, gió,...
  • Tiếng không tự do: có thể phân thành hai nhóm. Nhóm những tiếng không tự do nhưng tự thân nó mang nghĩa như: thủy, hỏa,...Nhóm tiếng không tự do tự thân nó không mang nghĩa như: (nắng) nôi, phố (xá),..

Tuy nhiên, ranh giới của chúng không tuyệt đối, cần phân biệt với các trường hợp trung gian giữa loại này với loại khác.

3. Phương thức cấu tạo từ trong tiếng Việt

Từ tiếng Việt được cấu tạo bằng cách dùng một tiếng hay một tổ hợp các tiếng. Từ được phân chia thành hai loại: từ đơn và từ ghép.

Từ đơn là từ do một tiếng có nghĩa tạo thành. Ví dụ: đẹp, xấu, buồn, vui, đi, đứng...

Từ phức do hai tiếng trở lên cấu tạo thành. Từ phức được chia thành từ ghép và từ láy.

Dựa vào tính chất của mối quan hệ về nghĩa giữa các thành tố cấu tạo có thể phân loại từ ghép như sau:

  • Từ ghép đẳng lập: là những từ mà các thành tố cấu tạo có quan hệ bình đẳng với nhau về nghĩa. Ví dụ: sách vở, nhà cửa, hoa quả,...
  • từ ghép chính phụ: là những từ có thành tố cấu tạo này phụ thuộc thành tố cấu tạo kia. Thành tố phụ có vai trò phân loại, chuyên biệt hóa, sắc thái hóa thành tố chính. Ví dụ: hoa hồng, xe máy, thâm niên, vàng chanh,...

Tổ hợp các tiếng trên cơ sở hòa phối ngữ âm cho ra từ láy. Từ láy là từ được tạo bởi hai tiếng trở lên, các yếu tố cấu tạo nên chúng có thành phần ngữ âm được lặp lại. Có thể phân loại từ láy thành hai dạng:

  • Từ láy toàn bộ: Các tiếng lặp lại với nhau hoàn toàn nhưng có một số trường hợp tiếng trước biến đổi thanh điệu hoặc phụ âm cuối để tạo ra sự hài hòa về thanh. Ví dụ: lâng lâng, thăm thẳm,
  • Từ láy bộ phận: giữa các tiếng có sự giống nhau về phụ âm đầu hoặc vần. Ví dụ: chênh vênh, rong ruổi,...

Từ láy được dùng trong cả văn nói lẫn văn viết để nhấn mạnh tình trạng hoặc tâm trạng muốn thể hiện.

Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp chúng ta vẫn thường nhầm lẫn từ ghép với từ láy. Mặc dù khó phân biệt nhưng sẽ đơn giản hơn nếu chúng ta vận dụng những cách sau:

Cách 1: từ láy âm là từ ghép nghĩa: Đa số từ láy trong tiếng Việt là láy âm, vì vậy nếu một trong hai từ đó là từ Hán Việt thì đó là từ ghép.

Cách 2: Từ ghép thuần Việt gồm hai âm tiết khác nhau không thể là từ láy: Ví dụ như sông suối, máu mủ là từ ghép thuần Việt. Ngược lại, một trong hai số đó có ý nghĩa thì đó là từ láy âm, ví dụ như vội vàng, lạnh lùng,...

Cách 3: Nếu hai tiếng trong từ đó có thể đảo trật tự cho nhau thì đó là từ ghép. Ví dụ: mơ mộng/ mộng mơ.

Hi vọng bài viết từ trong tiếng Việt sẽ cung cấp thêm những kiến thức bổ ích để các em học tốt hơn  Văn học 6